Thứ Ba, 5 tháng 7, 2016

TÁC HẠI CỦA THAM NHŨNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

TÁC HẠI CỦA THAM NHŨNG
VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG
                                                                ThS. Lê Việt Hà
                                                                 Khoa Lý luận chính trị

I. Đặt vấn đề:

Tham nhũng là một thách thức mang tính toàn cầu – đó là một nhận định được cả thế giới thừa nhận. Bởi tham nhũng là một trong những trở ngại lớn nhất đối với tăng trưởng và giảm đói nghèo. Ở Việt Nam, tham nhũng cũng đã được nhận thức khá sâu sắc rằng đó là một trở lực nghiêm trọng đối với chiến lược phát triển quốc gia, bởi nó làm suy giảm hiệu quả quản lý nhà nước, xói mòn nguyên tắc pháp quyền, cản trở tăng trưởng kinh tế và những nỗ lực xoá đói giảm nghèo, biến dạng điều kiện cạnh tranh trong giao dịch kinh doanh.

Ngày 3/12, Tổ chức minh bạch quốc tế (TI) công bố chỉ số cảm nhận tham nhũng 2013 (CPI 2013). Chỉ số này xếp hạng 177 quốc gia và vùng lãnh thổ dựa trên cảm nhận về mức độ tham nhũng trong khu vực công. Năm 2013, Việt Nam xếp hạng 116 trên tổng số 177 quốc gia và vùng lãnh thổ với điểm số bằng năm ngoái: 31/100 (trong đó 0 chỉ mức độ tham nhũng cao và 100 là rất trong sạch). Việt Nam nằm trong 2/3 số nước đạt điểm số dưới 50. Đan Mạch đứng đầu thế giới về mức độ trong sạch. Đồng hạng duy nhất là  New Zealand. Trong khi đó ở châu Á - Thái Bình Dương, Trung Quốc xếp hạng thứ 80 với điểm số 40/100. So với các nước Đông Nam Á, Việt Nam xếp thứ 7, sau Singapore, Brunei, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Indonesia.

Tham nhũng ở nước ta ngày càng tinh vi, khó phát hiện do các đối tượng tham nhũng thường có chức vụ, quyền hạn, có trình độ hiểu biết pháp luật, quan hệ rộng, liên kết với nhau thành các nhóm lợi ích. Tội phạm kinh tế, tham nhũng trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, tín dụng, chứng khoán tiếp tục diễn biến phức tạp, gây thất thoát lớn tài sản của Nhà nước. Thiệt hại do tham nhũng gây ra đối với ngân sách nhà nước, tài sản của nhân dân, doanh nghiệp rất lớn nhưng giá trị tài sản thu hồi thấp. Tham nhũng làm thay đổi mọi lãnh vực trong trong xã hội như kinh tế, luật pháp quốc gia, dân chủ, luân lý, giáo dục... Những tổn thất do tham nhũng gây nên thật khó đo lường cho hết.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhận định: “Tham nhũng là kẻ thù nguy hiểm của nhân dân, của bộ đội và của chính phủ vì nó không mang gươm mang súng mà nó nằm trong các tổ chức của ta để làm hỏng ta. Nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng ta là cần- kiệm - liêm - chính”. Tham nhũng còn gây ra tác hại làm giảm sút lòng tin của công dân đối với bộ máy và công chức, viên chức Nhà nước, triệt tiêu động lực cơ bản nhất của sự phát triển. Điều này đã được V.I. Lênin khuyến cáo: “Nếu có cái gì đó có thể triệt tiêu được chủ nghĩa xã hội thì đó chính là tham nhũng, quan liêu”. Đây cũng là bài học mà ông cha ta đã truyền lại cho con cháu. Trần Quốc Tuấn đã từng nói: “để dân khinh là mất nước”.

II. Tác hại của tham nhũng:

1. Tác hại về chính trị

Tham nhũng phá hoại đội ngũ cán bộ, tầm thường hoá hệ thống pháp luật, là nguyên nhân liên quan trực tiếp đến sự sống còn của Nhà nước. Tác hại của tham nhũng không chỉ dừng lại ở phương diện thiệt hại vật chất hàng ngàn tỷ đồng, hàng trăm triệu USD của Nhà nước mà tham nhũng sẽ làm tầm thường hoá hệ thống pháp luật của Nhà nước, kỷ cương xã hội không thể giữ vững, gây mất đoàn kết nội bộ, làm giảm uy tín của Đảng và Nhà nước trước nhân dân và là cơ hội để cho kẻ thù phá hoại, xâm lược. Nếu các nhà hành pháp mà tự mình phá hoại luật pháp thì làm sao có thể duy trì được phép nước. Những kẻ tham nhũng chính là những tên đầu trò trong việc làm tê liệt hệ thống hành pháp, làm cho Nhà nước trở thành đối lập và gánh nặng cho công dân. Tham nhũng tất yếu dẫn đến phá hoại đội ngũ cán bộ Nhà nước bởi vì những kẻ tham nhũng sẽ lừa dối và hư hoá cấp trên làm cho bộ máy trở thành quan liêu, chúng sẽ tăng cường đưa thêm kẻ xấu vào guồng máy và triệt hại đội ngũ viên chức chưa tốt. Những kẻ tham nhũng chính là những tên phá hoại từ bên trong của hệ thống hành pháp quốc gia. Tham nhũng sẽ làm cho quần chúng mất đi sự tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước và đây cũng là nguyên nhân căn bản nhất dẫn đến thất bại của Đảng và Nhà nước. Chính với những tác hại to lớn kể trên cũng như nhiều tác hại do bệnh tham nhũng tạo ra, nhiều nước đã coi tham nhũng là quốc nạn của đất nước, là giặc nội xâm nguy hiểm. Trong các văn kiện đại hội VIII, IX Đảng ta khẳng định: Nạn tham nhũng đang là một nguy cơ trực tiếp quan hệ đến sự sống còn của hệ thống chính trị.
Tham nhũng là trở lực lớn đối với quá trình đổi mới đất nước và làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước, đối với sự nghiệp xây dựng đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Công cuộc đổi mới đất nước một cách toàn diện đã mang đến cho đất nước ta thế và lực mới. Những điều chỉnh đúng đắn về chiến lược và sách lược đã phát huy tác dụng và tạo đà cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, tình trạng tham nhũng lại là một trở lực lớn đối với quá trình này. Quan điểm và tư duy đổi mới cùng với cơ chế, pháp luật đúng đắn, phù hợp đã bị tệ tham nhũng làm cho méo mó. Đối tượng tham nhũng đã lợi dụng sự thông thoáng của cơ chế, chính sách để thực hiện hành vi tham nhũng. Kẻ tham nhũng lợi dụng yêu cầu tăng cường kiểm tra, giám sát và các biện pháp khác để dọa dẫm, đòi hối lộ của đối tượng bị thanh tra, kiểm tra. Cơ chế, chính sách trở thành công cụ để thực hiện những lợi ích cá nhân.
Trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài, tham nhũng sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư nếu chúng ta không có biện pháp kịp thời ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng.
Hiện nay tình hình tham nhũng ở nước ta đã ở mức nghiêm trọng, đáng báo động. Tham nhũng không chỉ xảy ra ở cấp trung ương, ở những chương trình, dự án lớn mà còn xuất hiện nhiều trong các cấp chính quyền cơ sở - cơ quan tiếp xúc với nhân dân hàng ngày, giải quyết những công việc liên quan trực tiếp đến lợi ích của nhân dân. Điều đó làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, gây ra sự bất bình, bức xúc, thậm chí phản ứng của nhân dân đối với chính quyền. Để nhân dân mất niềm tin, tức là chúng ta đã đánh mất một sức mạnh vô cùng to lớn, có tính chất quyết định đối với sự nghiệp cách mạng.
Tác hại nguy hiểm của tệ tham nhũng, lãng phí gây ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của việc thực hiện chủ trương, chính sách về kinh tế - xã hội hoặc một nhiệm vụ quản lý nhất định của Nhà nước. Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 khẳng định: Tình hình tham nhũng vẫn diễn biến phức tạp trên nhiều lĩnh vực, nhất là trong quản lý, sử dụng đất đai, đầu tư xây dựng, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước, gây hậu quả xấu về nhiều mặt làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, tiềm ẩn các xung đột lợi ích, phản kháng về xã hội, làm tăng thêm khoảng cách giàu nghèo. Tham nhũng trở thành vật cản lớn cho thành công của công cuộc đổi mới, cho sức chiến đấu của Đảng, đe dọa sự tồn vong của chế độ.
2. Tác hại về kinh tế:
Tham nhũng gây tổn hại to lớn về mặt kinh tế cho sự phát triển xã hội kéo lùi sự phát triển tuỳ theo quy mô và mức độ gây hại của nó. Tham nhũng đã gây thiệt hại vật chất hàng ngàn tỷ đồng, hàng trăm triệu đô la của Nhà nước. Theo đánh giá của Văn phòng Liên hợp quốc về ma túy và tội phạm (UNODC) và Ngân hàng Thế giới (WB), nạn tham nhũng đã gây thiệt hại cho các nước đang phát triển tới 1,6 nghìn tỷ USD mỗi năm. Chi phí kinh tế của tham nhũng là rất khó xác định nhưng một số công trình nghiên cứu đã đưa ra đó là:
- Tăng từ 3-10% cho giá của một giao dịch để đẩy nhanh giao dịch.
- Một mức tổn thất tới 50% nguồn thu từ thuế của chính phủ do hối lộ và tham nhũng.
Những thiệt hại về kinh tế mà tham nhũng gây ra cho nước ta có thể kể đến là:
- Tham nhũng làm thất thoát những khoản tiền lớn trong xây dựng cơ bản do phải chi phí cho việc đấu thầu, việc cấp vốn, việc thanh tra, kiểm toán và hàng loạt các chi phí khác. Mặt khác do tham nhũng mà một số lượng lớn tài sản của Nhà nước bị thất thoát do các hành vi tham ô, lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt... Trong đó, những sai phạm trong lĩnh vực đất đai chiếm một số lượng đáng kể.
Theo báo cáo của Thanh tra Chính phủ, năm 2013, ngành thanh tra phát hiện 80 vụ, 90 đối tượng có hành vi liên quan đến tham nhũng với số tiền 117,5 tỉ đồng, đã chuyển cơ quan điều tra 11 vụ việc. Cũng trong năm 2013, cơ quan điều tra các cấp đã thụ lý 371 vụ án, 847 bị can phạm tội về tham nhũng. Thiệt hại được xác định qua các vụ án này lên đến khoảng 9.260 tỉ đồng, 51.000 lượng vàng SJC, 155.000m2 đất.
Nổi bật là các vụ án vi phạm các quy định cho vay trong hoạt động của tổ chức tín dụng xảy ra tại Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam chi nhánh Bình Chánh, TP.HCM gây thiệt hại 410 tỉ đồng, vụ án lạm quyền trong khi thi hành công vụ xảy ra tại Ngân hàng SeaBank gây thiệt hại 310 tỉ đồng…
Trong năm 2014, ngành thanh tra đã phát hiện 54 vụ, 87 đối tượng có hành vi liên quan đến tham nhũng với số tiền 68,5 tỷ đồng; đã thu hồi 46,9 tỷ đồng (đạt 68,5%, tăng 18,3% so với năm 2013).
Một số cá nhân, tổ chức thực hiện các hoạt động đầu tư bằng vốn ngân sách không dựa trên yêu cầu mang lại lợi ích cho Nhà nước, cho xã hội mà chỉ nhằm mưu cầu lợi ích cho cá nhân. Vì lợi ích cá nhân của mình hay của một nhóm người, một số doanh nghiệp đã đầu tư mua, nhập khẩu những dây chuyền sản xuất, máy móc, thiết bị, phương tiện, tàu thủy rất lạc hậu, cũ nát mang về không thể sử dụng được do công nghệ đã quá cũ hoặc tiêu tốn quá nhiều nhiên liệu hoặc thải ra quá nhiều các chất độc hại, gây thất thoát cho ngân sách nhà nước hàng ngàn tỷ đồng.
- Tham nhũng gây tổn thất lớn cho nguồn thu của ngân sách nhà nước thông qua thuế. Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước. Tuy nhiên do tệ tham nhũng, hối lộ mà một số doanh nghiệp chỉ phải nộp khoản thuế ít hơn nhiều so với khoản thuế thực tế phải nộp. Điều này đã làm thất thoát một lượng tiền rất lớn hàng năm. Hối lộ cũng dẫn đến những thất thoát lớn trong việc hoàn thuế, xét miễn giảm thuế…
- Tham nhũng, nhất là hành vi tham ô tài sản đã làm cho một số lượng lớn tài sản công trở thành tài sản tư của một số cán bộ, công chức, viên chức. Trong một số cơ quan, tổ chức đã hình thành các đường dây tham ô hàng tỷ, thậm chí hàng ngàn tỷ đồng của Nhà nước.
Tham nhũng gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho các công trình xây dựng. Do tham nhũng mà một số công trình xây dựng như các công trình cầu đường, nhà cửa kém chất lượng. Điều này không chỉ gây nguy hiểm đáng kể cho cuộc sống của người dân khi sử dụng các công trình này mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của nền kinh tế - xã hội.
Tham nhũng gây ảnh hưởng lớn đến môi trường kinh doanh, làm giảm đáng kể năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, làm chậm tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Ngân hàng Thế giới (WB) ước tính tham nhũng khiến chi phí của các doanh nghiệp toàn cầu tăng 10%, trong khi chi phí giao dịch tại các nước đang phát triển tăng thêm tới 25%. Sốtiền tham nhũng của quan chức trên toàn thế giới mỗi năm lên tới hơn 1.000 tỷ USD. Do tệ nạn tham nhũng mà nhiều doanh nghiệp tuy không có đủ thực lực và uy tín nhưng nhờ “hối lộ” mà vẫn giành được những hợp đồng kinh tế lớn. Điều đó không chỉ làm mất lòng tin của các doanh nghiệp làm ăn chính đáng trong cạnh tranh lành mạnh mà còn dẫn đến nhiều hậu quả xấu khác như chất lượng công trình kém, làm suy thoái phẩm chất của một số cán bộ, công chức, viên chức, làm mất lòng tin của các nhà đầu tư…
Hành vi sách nhiễu, gây khó khăn, đòi hối lộ của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức còn gây thiệt hại đến tài sản của người dân do họ phải đưa hối lộ khi liên quan đến các thủ tục hành chính. Mặt khác thủ tục hành chính bị kéo dài đã gây mất thời gian, tiền của của người dân, làm đình trệ các hoạt động sản xuất, kinh doanh.
3. Tác hại về xã hội
Tham nhũng xâm phạm, thậm chí làm thay đổi, đảo lộn những chuẩn mực đạo đức xã hội, tha hóa đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước. Trước những lợi ích bất chính đã hoặc sẽ có được khi thực hiện hành vi tham nhũng, nhiều cán bộ, công chức đã không giữ được phẩm chất đạo đức của người cán bộ cách mạng. Cán bộ, công chức khi thực hiện hành vi tham nhũng đã không còn làm việc vì mục đích phục vụ sự nghiệp cách mạng, phục vụ nhân dân mà hướng tới việc thu được các lợi ích bất chính, bất chấp việc vi phạm pháp luật, làm trái công vụ, trái lương tâm, đạo đức nghề nghiệp. Điều đáng báo động là một số cán bộ, công chức coi việc tham nhũng trở thành bình thường. Đó chính là biểu hiện của sự suy thoái, xuống cấp về đạo đức một cách nghiêm trọng. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống thể hiện trước hết ở tư tưởng hưởng thụ, quá coi trọng đồng tiền, tư tưởng vụ lợi, làm giàu bất chính… Những tư tưởng này đang làm suy thoái một bộ phận cán bộ có chức, có quyền. Xuất phát từ những tâm lí này mà một số cán bộ, đảng viên đã lợi dụng công việc, nhiệm vụ, quyền hạn được giao để đòi hối lộ, tham ô tài sản. Đặc biệt là những cán bộ công tác trong các lĩnh vực tài chính, tiền tệ, cấp phát vốn, thanh tra, kiểm toán cũng như các lĩnh vực có liên quan đến nguồn vốn ngân sách hay vốn tài trợ, vốn vay ưu đãi…
Hơn thế, tham nhũng còn xâm phạm những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, khi người thực hiện hành vi tham nhũng cũng có khi là giáo viên, bác sỹ, những người hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội – những người xây dựng nền tảng tinh thần cho xã hội.
Tham nhũng là một trong những nguyên nhân chính làm tăng trưởng tệ nạn xã hội. Để công việc không bị cản trở những kẻ phạm pháp tìm cách mua chuộc cán bộ, nhân viên, thành viên chính quyền. Nếu những viên chức này tham nhũng hành vi những kẻ phạm pháp được che chở và trở thành “hợp pháp hoá”. Người dân hàng ngày chứng kiến những hành vi phạm pháp nhưng không bị trừng phạt, dần dần họ quen thuộc với những hành vi này và cuối cùng trở thành bình thường hoá trong xã hội. Khi xã hội bị tham nhũng thống trị tệ nạn xã hội tăng trưởng, những viên chức thay vì bảo vệ luật pháp lại nhận tiền hối lộ bao che những kẻ phạm pháp, người dân trước kia được viên chức tận tình giúp đỡ những khi cần thiết nay bị hạch sách đủ điều khi không có quà bồi dưỡng... Qua những hành động trên các viên chức đã phá lề luật đạo đức qui định trong xã hội. Do đời sống ngày càng khó khăn do tham nhũng gây nên, để sống còn người dân lương thiện cũng phải bất chấp làm mọi việc, kể cả những việc phản đạo đức như buôn bán hàng giả, hàng lậu... Mối liên hệ, cách đối xử giữa con người với nhau trong xã hội bị thay đổi, giá trị luân lý, đạo đức trước kia bị mất hiệu lực. Khi “một người chỉ vì chính bản thân mình” trong xã hội sẽ phát sinh hàng chục triệu lề luật đạo đức khác nhau, sự mạnh yếu của mỗi lề luật lệ thuộc vào quyền lực của chủ nhân lề luật đạo đức đó. Từ khi lọt lòng mẹ trẻ nhỏ đã chứng kiến những “lợi lộc do chức vụ đem lại” hay những “chạy chọt” nhằm hoán chuyển việc làm bất hợp pháp trở thành hành vi chính nghĩa của cha mẹ, người thân, họ hàng, hàng xóm... Khi đi học đến trường phải tặng quà, phải đi học kèm thêm ở nhà thầy cô mới được điểm tốt... Những “tục lệ” này được hấp thụ từ ấu thơ nên đối với chúng là chuyện thường tình “có tiền mua Tiên cũng được” và “không mày đố thầy dạy ai?”, học trò đương nhiên trở thành “khách hàng” của thầy cô giáo vì “khách hàng là vua” nên học trò không nhất thiết phải cố gắng học hành nhưng vẫn được điểm cao. Khi lớn lên chúng sẽ bắt chước người lớn phạm pháp vì “cha mẹ chúng sẽ dùng tiền biến mọi việc thành chính nghĩa!”.
III. Ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác phòng, chống tham nhũng:
1. Bảo vệ lợi ích của quần chúng nhân dân
Trong thời gian vừa qua, ở nước ta đã có nhiều vụ án liên quan đến nạn tham nhũng, trong đó có những vụ án lớn như vụ án Dương Chí Dũng – cựu chủ tịch Vinalines, vụ Huỳnh Thị Huyền Như, đại án tham nhũng Vifon... Giá trị tài sản bị thiệt hại, bị thất thoát lên đến hàng chục, hàng trăm, thậm chí là hàng ngàn tỷ đồng. Trong điều kiện đất nước ta đang cần tập trung tối đa mọi nguồn lực cần thiết để phát triển, làm cho dân giàu, nước mạnh thì việc thất thoát một lượng lớn tài sản của Nhà nước, của tập thể, của nhân dân như vậy vào trong tay những người thực hiện hành vi tham nhũng cần được coi là một thứ tội ác cần phải đấu tranh và xử lý mạnh mẽ.
Bên cạnh những vụ tham nhũng có giá trị lớn như đã nêu ở trên, việc một số cán bộ, công chức quan liêu, sách nhiễu đối với nhân dân trong khi thực thi công vụ, lạm dùng quyền hạn khi thi hành nhiệm vụ khiến cho nhân dân phải mất rất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc để có thể thực hiện được công việc của mình như xin cấp các loại giấy phép, giấy chứng nhận…
Hiến pháp Việt Nam đã khẳng định, Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân; quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân; tất cả tài sản là của nhân dân. Nhân dân đóng góp mồ hôi xương máu, tiền của cho công cuộc kháng chiến, xây dựng đất nước. Vì vậy, bảo vệ tài sản công, chống tham ô, lãng phí là bảo vệ tài sản của nhân dân, bảo vệ quyền dân chủ của nhân dân. Cán bộ là người được giao quản lý tài sản để thực hiện các nhiệm vụ do nhân dân giao phó. Vì vậy, nhân dân có quyền và nghĩa vụ giám sát, phê bình cán bộ, đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, tham ô, lãng phí.

2. Bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa

Đảng và Nhà nước ta xác định tham nhũng là “quốc nạn”, một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ và coi chống tham nhũng là nhiệm vụ thường xuyên của tổ chức đảng và cả hệ thống chính trị. Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 21/8/2006 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã nhấn mạnh: “Tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta”. Có thể nói, tham nhũng đã trở thành trở lực đối với quá trình đổi mới đất nước và làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, đối với sự nghiệp xây dựng đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã chứng minh sự tham gia của quần chúng quyết định thành công của công cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Đấu tranh giành độc lập dân tộc, tiêu diệt chế độ thực dân phong kiến, xây dựng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội là nội dung, mục tiêu của cách mạng nước ta. Trong cuộc đấu tranh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, chống tham ô, lãng phí cũng là một nội dung quan trọng của cách mạng vì tham ô là đặc trưng gắn liền với thực dân, phong kiến. Do đó, sự quyết tâm đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta góp phần rất lớn trong việc củng cố lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng. Nghị quyết 14/NQ/TW ngày 15/5/1996 của Bộ Chính trị khóa VII đã chỉ rõ: Đấu tranh chống tham nhũng là một bộ phận cấu thành quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Đảng và nhân dân ta hiện nay, góp phần nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, xây dựng Đảng và kiện toàn bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền dân chủ của nhân dân… Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn liền và phục vụ cho đổi mới kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

3. Bảo vệ các giá trị đạo đức văn minh

Có thể nói, tham nhũng làm tha hóa, suy thoái một cách nghiêm trọng đạo đức cách mạng của cán bộ, phá hoại tinh thần cần, kiệm, liêm chính, ý chí vượt khó của cán bộ, đảng viên. Vì những lợi ích trước mắt và vì quyền lợi của riêng cá nhân, gia đình, người thân của mình mà nhiều cán bộ, công chức, viên chức nhà nước đã có hành vi tham nhũng, biến của công thành của tư. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, bất cứ hành vi lấy của công làm của tư nào cũng đều là hành vi tham ô. Qua các vụ án về tham nhũng được phát hiện trong thời gian gần đây, chúng ta có thể thấy số lượng cán bộ, đảng viên có hành vi tham nhũng là không hề ít, thậm chí có những người là cán bộ cấp cao, giữ những nhiệm vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước. Chính việc thiếu tu dưỡng bản thân, ý thức kỷ luật kém, sự thoái hóa, biến chất trong đạo đức và lối sống đã khiến cho những cán bộ này không còn làm việc vì mục đích phục vụ sự nghiệp cách mạng, phục vụ nhân dân mà ngược lại, lợi dụng chức quyền để tham nhũng, làm giàu bất chính, lãng phí của công, quan liêu, ức hiếp dân… Đáng chú ý là những biểu hiện tiêu cực này có chiều hướng phát triển và một số cán bộ, công chức coi việc tham nhũng trở thành bình thường. Đó chính là biểu hiện của sự suy thoái, xuống cấp về đạo đức một cách nghiêm trọng. Hơn thế, tham nhũng còn xâm phạm những giá trị đạo đức truyến thống của dân tộc khi những nét đẹp văn hóa của người Việt Nam như “miếng trầu là đầu câu chuyện”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”… đã và đang bị lợi dụng để thực hiện hành vi tham nhũng. Tham nhũng còn diễn ra ở những lĩnh vực như văn hóa, giáo dục, trong các chương trình trợ cấp thương binh, liệt sỹ, các gia đình chính sách; tham nhũng cả tiền, hàng hóa cứu trợ cho đồng bào gặp thiên tai; tham nhũng trong cả xét duyệt công nhận di tích lịch sử văn hóa, thi đua, khen thưởng… Do đó, việc phòng, chống tham nhũng góp phần rất quan trọng trong việc bảo vệ các giá trị đạo đức văn minh, bảo vệ nền tảng tinh thần của xã hội.
IV. Các giải pháp phòng, chống tham nhũng
Thứ nhất, phải công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Đây là biện pháp quan trọng đầu tiên để ngăn ngừa tham nhũng. Công khai, minh bạch sẽ tạo điều kiện để người dân cũng như toàn xã hội tham gia giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước. Với việc công khai minh bạch trong hoạt động tại các cơ quan nhà nước, người dân sẽ dễ dàng nhận biết được các quyền và nghĩa vụ của mình để chủ động thực hiện theo các quy định của pháp luật cũng như đòi hỏi các cơ quan nhà nước và các cán bộ, công chức nhà nước thực hiện các quy định đó. Công khai, minh bạch sẽ làm cho công chức nhà nước có ý thức hơn trong việc thực hiện chức trách, công vụ của mình theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền mà pháp luật quy định bởi mọi hành vi vi phạm, phiền hà, sách nhiễu hay lợi dụng chức trách để tư lợi đều có thể bị phát hiện và xử lý. “Công khai và minh bạch là những chìa khóa then chốt nhằm bảo đảm đấu tranh chống tham nhũng thành công”. Luật Phòng, chống tham nhũng đưa ra các nguyên tắc và những quy định cụ thể để bảo đảm cho việc thực hiện công khai, minh bạch trong một số hoạt động cụ thể, nhất là những lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng như: trong mua sắm công và xây dựng cơ bản, trong quản lý dự án đầu tư xây dựng, tài chính và ngân sách nhà nước, việc huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân, việc quản lý, sử dụng các khoản hỗ trợ, viện trợ, trong quản lý doanh nghiệp của Nhà nước, trong cổ phần hóa doanh nghiệp của Nhà nước, việc sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước, trong quản lý và sử dụng đất, trong quản lý, sử dụng nhà ở, trong lĩnh vực giáo dục...

Thứ hai, phải xây dựng và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn

Chế độ, định mức, tiêu chuẩn trong các lĩnh vực quản lý luôn liên quan đến việc sử dụng tài sản, vốn và ngân sách nhà nước. Việc thực hiện một cách tùy tiện và trái phép các tiêu chuẩn, chế độ, định mức đó sẽ dẫn đến việc tài sản của Nhà nước bị thất thoát, tiền bạc hoặc những lợi ích vật chất rơi vào một số ít người. Đây chính là hành vi tham nhũng cần ngăn chặn.
Điều 34 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định về những nguyên tắc trong việc xây dựng, ban hành và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn như sau:
- Cơ quan nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:
+ Xây dựng, ban hành và công khai các chế độ, định mức, tiêu chuẩn;
+ Công khai các quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn về quyền lợi đối với từng loại chức danh trong cơ quan mình;
+ Chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn;
Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp và các cơ quan, tổ chức, đơn vị khác có sử dụng ngân sách nhà nước căn cứ vào quy định tại khoản 1 điều này hướng dẫn áp dụng hoặc phối hợp với cơ quan nhà nươc có thẩm quyền xây dựng, ban hành và công khai các chế độ, định mức, tiêu chuẩn áp dụng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị mình.
- Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, đơn vị ban hành các chế độ, định mức, tiêu chuẩn trái pháp luật.
Như vậy, việc xây dựng, ban hành và công khai các chế độ, định mức, tiêu chuẩn là quy định bắt buộc đối với mọi cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách nhà nước.

Thứ ba, phải xây dựng quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, việc chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức.

Điều 36 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định về quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức như sau:
Quy tắc ứng xử là các chuẩn mực xử sự của cán bộ, công chức, viên chức trong thi hành nhiệm vụ, công vụ và trong quan hệ xã hội, bao gồm những việc phải làm hoặc không được làm, phù hợp với đặc thù công việc của từng nhóm cán bộ, công chức, viên chức và từng lĩnh vực hoạt động công vụ, nhằm đảm bảo sự liêm chính và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức.
- Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức được công khai để nhân dân giám sát việc chấp hành.
Thứ tư, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 cũng đã quy định một cách khá toàn diện và đầy đủ những nội dung cơ bản nhất của một hệ thống minh bạch tài sản, bao gồm những vấn đề chính sau:
+ Cán bộ, công chức phải kê khai tài sản hằng năm để tránh che giấu, tẩu tán tài sản tham nhũng; ngoài việc kê khai tài sản của bản thân, cán bộ, công chức còn phải kê khai tài sản của vợ hoặc chồng và con chưa thành niên.
+ Việc xác minh tài sản được tiến hành trong một số trường hợp nhất định. Khi xem xét đề bạt, bổ nhiệm, bầu cử hoặc có hành vi tham nhũng thì thủ trưởng cơ quan tổ chức việc xác minh tài sản để xem cán bộ, công chức có kê khai trung thực hay không.
+ Bản kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản được công khai trong một số trường hợp nhất định theo yêu cầu và trên cơ sở quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
+ Người có nghĩa vụ kê khai tài sản sẽ phải chịu trách nhiệm kỷ luật nếu kê khai không trung thực, nếu là người ứng cử thì sẽ bị loại khỏi danh sách bầu cử, người được dự kiến bổ nhiệm, phê chuẩn thì sẽ không được bổ nhiệm, phê chuẩn vào chức vụ dự kiến.
Thứ năm, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu là một yếu tố quan trọng trong quản lý nhà nước và chống tham nhũng nói riêng. Khoản 1 Điều 54 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định nguyên tắc: người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. Trên cơ sở nguyên tắc chung như trên, Luật cũng quy định tùy từng trường hợp cụ thể mà xác định mức độ trách nhiệm khác nhau của người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, có trường hợp họ phải chịu trách nhiệm trực tiếp, có trường hợp thì liên đới chịu trách nhiệm.
Thứ sáu, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 đã đề cập đến một số khâu quan trọng cần lưu ý trong quá trình tiến hành cải cách hành chính để góp phần phòng ngừa tham nhũng, cụ thể: Nhà nước thực hiện cải cách hành chính nhằm tăng cường tính độc lập và tự chịu trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị; đẩy mạnh việc phân cấp quản lý nhà nước giữa trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương; phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan nhà nước; công khai, đơn giản hóa và hoàn thiện thủ tục hành chính; quy định cụ thể trách nhiệm của từng chức danh trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Một giải pháp phòng ngừa tham nhũng quan trọng nữa mà Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 có quy định đó là vấn đề đổi mới phương thức thanh toán. Hiện nay, về cơ bản nền kinh tế của chúng ta vẫn là nền kinh tế tiền mặt, các giao dịch chủ yếu bằng tiền mặt rất khó kiểm soát, kể cả các khoản thu nhập của cán bộ, công chức từ ngân sách nhà nước. Vì vậy, cùng với việc áp dụng khoa học – công nghệ trong quản lý, cần phải đổi mới phương thức thanh toán để kiểm soát chặt chẽ hơn các giao dịch, nhất là những khoản chi có sử dụng ngân sách nhà nước và các khoản chi liên quan đến cán bộ, công chức, viên chức để bảo đảm sự minh bạch trong các nguồn thu nhập của họ.
V. Trách nhiệm của công dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng
Chống tham nhũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân. Việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng phải huy động sức mạnh của toàn bộ hệ thống chính trị; khuyến khích, động viên sự tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân và toàn xã hội. Do đó vai trò và sự tham gia của xã hội trong phòng, chống tham nhũng là một yếu tố thiết yếu để phòng, chống tham nhũng hiệu quả.
Điều 6 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định: Công dân có quyền phát hiện, tố cáo hành vi tham nhũng; có nghĩa vụ hợp tác giúp đỡ cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc phát hiện, xử lý người có hành vi tham nhũng.
Nhằm khuyến khích và đảm bảo việc tham gia chủ động, tích cực, hiệu quả của xã hội trong phòng, chống tham nhũng, ngày 27 tháng 3 năm 2007 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 47 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng, về vai trò trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng. Theo Nghị định, công dân có trách nhiệm tham gia phòng, chống tham nhũng cụ thể như sau:
- Chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật về phòng, chống tham nhũng; lên án, đấu tranh với những người có hành vi tham nhũng; phản ánh với Ban thanh tra nhân dân, tổ chức mà mình là thành viên về hành vi tham nhũng, vụ việc tham nhũng để Ban thanh tra nhân dân, tổ chức đó kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật; cộng tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc xác minh vụ việc tham nhũng khi được yêu cầu.
- Tố cáo hành vi tham nhũng, khi tố cáo hành vi tham nhũng với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, công dân phải nêu rõ họ, tên, địa chỉ, nội dung tố cáo và cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có được cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.
Người tố cáo được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe doạ, trả thù, trù dập do việc tố cáo hành vi tham nhũng.
- Tham gia phòng, chống tham nhũng thông qua Ban thanh tra nhân dân, tổ chức mà mình là thành viên. Nhân dân ở xã, phường, thị trấn, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tham nhũng, vụ việc tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị mình có quyền: Phản ánh với Ban thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn hoặc ở cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước nơi mình cư trú hoặc làm việc; Phản ánh với tổ chức mà mình là thành viên. Việc phản ánh của nhân dân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động về hành vi có dấu hiệu tham nhũng, vụ việc tham nhũng phải khách quan, trung thực.
- Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật về phòng, chống tham nhũng; góp ý kiến với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc xây dựng các văn bản pháp luật về phòng, chống tham nhũng.
VI. Kết luận
Tham nhũng là hành vi gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển bền vững của đất nước, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển làm cho kinh tế chậm phát triển, thất thoát, lãng phí tài sản của dân, thiệt hại ngân sách, gây rối loạn nền kinh tế, gia tăng khoảng cách giàu nghèo, tình trạng nghèo đói ngày càng trầm trọng. Hơn nữa, nó làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào Nhà nước, làm cho chế độ chính trị dần suy yếu từ bên trong, tạo điều kiện cho các thế lực thù địch tấn công ta, dẫn đến sụp đổ nếu không kịp thời chấn chỉnh.
Tác hại của tham nhũng là vô cùng lớn và đặc biệt nguy hiểm đối với tất cả các quốc gia. Tham nhũng đã trở thành “quốc tế nạn”, là một trong những vấn đề toàn cầu mà tất cả các quốc gia đều có trách nhiệm cùng tham gia giải quyết. Nói tới tham nhũng không phải là nói tới một số lượng tiền nào đó được chuyển từ tay người này qua tay người khác hay “chất dầu mỡ bôi trơn cỗ máy kinh doanh”. Nói tới tham nhũng là nói tới tương lai của một dân tộc. Và chính dân tộc đó phải tự quyết định xử lý tham nhũng như thế nào. Thực trạng báo động ở nước ta hiện nay là tệ tham nhũng ngày càng trầm trọng, trở nên phổ biến trong tất cả các lĩnh vực từ công an đến hải quan, từ tài nguyên môi trường đến xây dựng, thuế, ngân hàng, y tế, giáo dục cho đến cả thanh tra, kiểm sát, tòa án,… Từ lĩnh vực kinh tế cho đến cả chính trị với quy mô các vụ án ngày càng lớn, tính chất ngày càng nghiêm trọng, diễn biến phức tạp, thủ đoạn ngày càng tinh vi.
Đảng và Nhà nước ta đã đã có nhiều chủ trương, biện pháp phòng, chống tham nhũng nhưng vẫn chưa hiệu quả. Để bảo đảm công tác PCTN hiệu quả, trước hết phải đặc biệt coi trọng việc phòng ngừa, tăng cường công tác giáo dục, quản lý cán bộ, đảng viên, nâng cao nhận thức cho toàn xã hội. Bên cạnh việc củng cố tổ chức bộ máy Đảng và chính quyền các cấp, thì Đảng và Nhà nước phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật hiệu lực, hiệu quả và có tính khả thi cao. Đấu tranh PCTN phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, kiên quyết có trọng tâm, trọng điểm; kiên quyết, nghiêm trị người cố tình vi phạm pháp luật, khoan hồng người tự giác, ăn năn, hối cải, tự giác bồi hoàn thiệt hại cho Nhà nước và cho địa phương, đơn vị.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét